Cấp cứu khẩn cấp xảy ra trong chấn thương vùng hàm mặt: Chảy máu

Thứ năm - 18/10/2018 21:31
Khi có tụt huyết áp sau chấn thương phải nghĩ ngay đến nguyên nhân chảy máu, trước khi nghĩ đến các nguyên nhân khác. Cần đánh giá nhanh và chính xác tình trạng huyết động. Những yếu tố cơ bản để đánh giá trong giây lát: tình trạng tri giác, màu sắc da, mạch.

1. Nguyên nhân

          – Trong chấn thương hàm mặt, chảy máu có thể do vết thương phần mềm đứt rách mạch máu lớn, gãy xương dập nát nhiều.
          – Chấn thương kết hợp: Vỡ tạng đặc (gan, lách..), đặc biệt kết hợp tổn thương vỡ dập nền sọ trước và nền sọ giữa gây chảy máu vào xoang hàm, xuống thành họng sau hoặc ra tai ngoài.

2. Biểu hiện lâm sàng mất máu

          Tùy theo mức độ mất máu có các biểu hiện lâm sàng khác nhau:
          – Độ I: Mất 15% khối lượng tuần hoàn. Không có triệu chứng nổi bật, cơ thể có thể bù lại trong vòng 24h. Chỉ cần truyền dịch là ổn định được.
          – Độ II: Mất 15-30% khối lượng tuần hoàn. Biểu hiện mạch tăng > 100 lần/p, thở nhanh, HA kẹt, người bệnh căng thẳng, hốt hoảng, da xanh niêm mạc nhợt, nước tiểu ít 20-30 ml/h (Bt 0,5 ml/kg thể trọng/h). Ngoài bù dịch cần truyền máu mới ổn định được.
          – Độ III: Mất 30-40% khối lượng tuần hoàn. Triệu chứng điển hình: mạch nhanh, HA tụt, thở nhanh, rối loạn ý thức, da, niêm mạc nhợt nhạt. Cần truyền máu cấp cứu.
          – Độ IV: Mất > 40% khối lượng tuần hoàn. Mất máu ồ ạt đe dọa tính mạng BN. Biểu hiện mạch nhanh, HA tụt và kẹt, vô niệu, người bệnh bất tỉnh, da xanh tái và lạnh. Cần truyền máu khẩn cấp và phẫu thuật cầm máu ngay.

3. Xử trí

          – Cầm máu tại chỗ:
+ Đối với trường hợp do vết thương phần mềm tùy theo mức độ chảy máu, có thể tiến hành từ đơn giản như kẹp mạch, khâu cầm máu, băng ép, khi tổn thương mạch máu có thể thắt động mạch chọn lọc, nếu không kết quả có thể thắt động mạch cảnh ngoài.
+ Nếu chảy máu do gãy xương cần bất động tốt, tránh làm di lệch thứ phát hoặc phẫu thuật cầm máu xương gãy và nắn chỉnh kết xương. Nếu vỡ nền sọ máu chảy vào họng cần đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản, chèn mèche vào mũi – họng – miệng mới có hy vọng cầm máu tạm thời.
         – Bồi phụ khối lượng tuần hoàn: Truyền dịch (Dd muối đẳng trương, Ringer lactate), truyền máu cho bệnh nhân sau khi có hết quả xét nghiệm máu cấp cứu.

         Chú ý: Người già khi mất máu khả năng tăng nhịp tim và thay đổi chỉ số huyết áp thường không rõ ràng. Trẻ em có sự dự trữ sinh lý lớn nên ít có dấu hiệu biểu hiện lâm sàng của mất máu, nhưng khi suy sụp sẽ rất nhanh và trầm trọng.

Tác giả bài viết: Admin

  Ý kiến bạn đọc

Tin xem nhiều nhất
Download Bài giảng
Quảng cáo
Thông kê
  • Đang truy cập7
  • Hôm nay541
  • Tháng hiện tại6,040
  • Tổng lượt truy cập4,204,180
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây